Home Chuyên đề Bạn đọc viết Thử bàn về tỷ lệ hoa hồng tối đa trong bảo hiểm nhân thọ
Thử bàn về tỷ lệ hoa hồng tối đa trong bảo hiểm nhân thọ PDF Print E-mail
Monday, 09 January 2012 13:14

altHiện nay đại lý là kênh phân phối đem lại gần 100% doanh số cho ngành bảo hiểm nhân thọ Việt Nam. Kênh phân phối này sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ đạo đối với ngành trong nhiều năm tới. Với đại lý, hoa hồng gần như là 100% thù lao mà họ nhận được từ doanh nghiệp bảo hiểm, do vậy, để phát triển được kênh đại lý, cũng là phát triển ngành bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, việc đưa ra các chính sách, quy định về hoa hồng phù hợp đóng vai trò rất quan trọng.

Xung quanh vấn đề hoa hồng có rất nhiều điểm cần bàn luận như việc sử dụng hoa hồng, đối tượng được nhận hoa hồng, hoa hồng quản lý... tuy vậy bài viết này chỉ tập trung thảo luận và đề xuất giải pháp về quy định tỷ lệ hoa hồng tối đa theo các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.

1. Quy định hiện hành về hoa hồng bảo hiểm nhân thọ

a) Với các sản phẩm truyền thống

Theo quy định tại Phụ lục 9 ban hành kèm theo Thông tư số 155/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 của Bộ Tài chính, bảng tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm tối đa áp dụng cho các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ truyền thống như sau:

-  Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ cá nhân:

+ Trường hợp cho từng nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt: Hoa hồng bảo hiểm nhân thọ được áp dụng đối với các sản phẩm bảo hiểm chính theo bảng sau:

alt

+ Trường hợp kết hợp các nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt: Hoa hồng bảo hiểm nhân thọ được tính trên cơ sở tổng số hoa hồng của các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ riêng biệt nêu trên.

- Đối với nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ nhóm: Tỷ lệ hoa hồng tối đa bằng 50% các tỷ lệ tương ứng áp dụng cho các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ cá nhân cùng loại. 

b) Với bảo hiểm liên kết chung
Theo quy định tại Phụ lục III, Quy chế triển khai bảo hiểm liên kết chung (Ban hành kèm theo Quyết định số  96 /2007/QĐ-BTC ngày 23  tháng 11  năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), bảng tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm tối đa áp dụng cho bảo hiểm liên kết chung như sau:
alt

c) Với bảo hiểm liên kết đơn vị
Theo quy định tại Phụ lục III, Quy chế triển khai bảo hiểm liên kết đơn vị (Ban hành kèm theo Quyết định số 102 /2007/QĐ-BTC ngày 14 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), bảng tỷ lệ hoa hồng bảo hiểm tối đa áp dụng cho bảo hiểm liên kết đơn vị như sau:                                                                                                                                             
alt

2. Nhận xét và đề xuất

Có thể nhận thấy quy định về hoa hồng bảo hiểm nhân thọ đã và đang góp phần tích cực vào việc phát triển kênh phân phối bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt là kênh đại lý, tuy vậy quy định về hoa hồng vẫn còn những điểm cần được xem xét, hoàn thiện thêm, qua đó giúp thúc đẩy ngành bảo hiểm nhân thọ phát triển hơn nữa trong thời gian tới, đó là:
- Tỷ lệ hoa hồng năm đầu của bảo hiểm trả tiền định kỳ (niên kim nhân thọ) hiện được quy định quá thấp so với các loại hình bảo hiểm nhân thọ mang tính tiết kiệm khác. Trên thực tế, đến nay các doanh nghiệp bảo hiểm như Bảo Việt Nhân thọ mới triển khai sản phẩm bảo hiểm trả tiền định kỳ ở mức độ rất khiêm tốn (mặc dù theo phản hồi, thị trường có nhu cầu cao về loại hình bảo hiểm này) mà nguyên nhân chính là do hoa hồng thấp, không khuyến khích đại lý khai thác. 
- Tỷ lệ hoa hồng năm đầu của bảo hiểm trọn đời truyền thống, bảo hiểm tử kỳ được quy định khá thấp trong khi phí bảo hiểm của các loại hình bảo hiểm này khá thấp, đặc biệt với những hợp đồng có thời hạn đóng phí dài, dẫn đến hoa hồng rất thấp, và hệ quả là, các sản phẩm này rất khó triển khai qua kênh đại lý. Kết quả triển khai thời gian qua cho thấy, bảo hiểm trọn đời truyền thống, bảo hiểm tử kỳ có doanh số rất nhỏ ở thị trường Việt Nam mà một trong những lý do chủ yếu là hoa hồng thấp trong khi đây là loại hình bảo hiểm mang tính bảo vệ rất thiết thực đối với người dân, đặc biệt với tầng lớp dân cư có thu nhập thấp.
- Quy định tỷ lệ hoa hồng tối đa giữa các nhóm sản phẩm truyền thống và liên kết chung, liên kết đơn vị có những điểm chưa nhất quán và theo hướng ưu ái hơn đối với các sản phẩm phi truyền thống. Chẳng hạn, với cùng hợp đồng bảo hiểm trọn đời có cùng thời hạn đóng phí nhưng với bảo hiểm trọn đời liên kết chung, liên kết đơn vị thì hoa hồng có thể lên tới 40% phí bảo hiểm trong năm thứ nhất trong khi với bảo hiểm trọn đời truyền thống thì tỷ lệ hoa hồng tối đa chỉ là 30%. Quy định này vô hình chung không khuyến khích các sản phẩm truyền thống so với các sản phẩm phi truyền thống.
- Với những sản phẩm kết hợp các nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt, quy định “hoa hồng bảo hiểm nhân thọ được tính trên cơ sở tổng số hoa hồng của các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ riêng biệt” rất khó thực hiện trên thực tế vì phí bảo hiểm của sản phẩm không được tính tách theo từng nghiệp vụ mà tính chung cho tất cả các quyền lợi bảo hiểm. Thêm vào đó, với sự phát triển của thị trường và nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, các sản phẩm bảo hiểm với quyền lợi bảo hiểm thuộc các nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau ngày càng chiếm ưu thế.
- Việc quy định tỷ lệ hoa hồng tối đa theo “Thời hạn bảo hiểm 10 năm trở xuống” và “Thời hạn bảo hiểm trên 10 năm” tạo ra sự khác biệt lớn về hoa hồng giữa thời hạn bảo hiểm 10 năm và các thời hạn bảo hiểm liền kề trên 10 năm (chẳng hạn 11 năm).
- Quy định hiện hành về tỷ lệ hoa hồng của phí định kỳ và phí 1 lần có thể dẫn đến những điểm bất hợp lý nhất định. Chẳng hạn, sản phẩm tử kỳ 2 năm nếu đóng phí định kỳ thì sẽ được hưởng tối đa 40% hoa hồng trong năm thứ nhất, 20% hoa hồng trong năm thứ 2 nhưng nếu đóng phí 1 lần chỉ được hưởng 15%. Như vậy, hoa hồng được hưởng của phương thức đóng phí 1 lần cho cả thời hạn bảo hiểm 2 năm có thể thấp hơn hoa hồng được hưởng chỉ trong năm thứ nhất của phương thức phí định kỳ.
- Quy định hiện hành chưa thể hiện rõ tỷ lệ hoa hồng tối đa áp dụng theo thời hạn bảo hiểm hay thời hạn đóng phí, năm hợp đồng hay năm đóng phí bảo hiểm nên có thể gây khó khăn nhất định cho việc áp dụng. Việc quy định hoa hồng theo “năm hợp đồng”có thể tạo ra những điểm chưa hợp lý về hoa hồng với những hợp đồng có cùng thời hạn bảo hiểm, cùng số tiền bảo hiểm nhưng có thời hạn đóng phí khác nhau. Chẳng hạn, với cùng sản phẩm Hỗn hợp thời hạn 20 năm và cùng số tiền bảo hiểm, nếu thời hạn đóng phí là 5 năm thì hoa hồng đại lý được nhận có thể cao hơn nhiều so với phương án đóng phí cả 20 năm. Thêm vào đó, trên thực tế trong quá trình thực hiện hợp đồng khách hàng có thể tạm ngừng đóng phí sau đó khôi phục đóng phí hoặc tăng phí định kỳ (trong các hợp đồng bảo hiểm liên kết chung hoặc liên kết đơn vị), và như vậy, việc quy định đóng phí theo năm hợp đồng sẽ dẫn tới sự không công bằng tương đối giữa các hợp đồng và gây khó khăn nhất định cho việc xác định tỷ lệ hoa hồng tối đa để áp dụng. Chẳng hạn, hợp bảo hiểm liên kết chung tăng phí định kỳ từ năm hợp đồng thứ 2, phần phí định kỳ tăng thêm sẽ chịu sự điều chỉnh của quy định về tỷ lệ hoa hồng tối đa năm thứ nhất hay năm thứ hai?.
- Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được phép và đều bán các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, tuy vậy đến nay chưa có quy định hoa hồng cho bảo hiểm sức khỏe do các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ triển khai. Trên thực tế, khi đưa ra tỷ lệ hoa hồng các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đều phải tham chiếu đến tỷ lệ hoa hồng quy định cho bảo hiểm sức khỏe trong bảo hiểm phi nhân thọ. 
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, dưới đây xin trình bày một số đề xuất liên quan đến hoàn thiện quy định về tỷ lệ hoa hồng tối đa:
- Thứ nhất, tỷ lệ hoa hồng tối đa của sản phẩm bảo hiểm trả tiền định kỳ cần được quy định tương đương với tỷ lệ hoa hồng của bảo hiểm Hỗn hợp truyền thống vì bản chất của 2 loại sản phẩm này gần như nhau. Trên thực tế, sản phẩm bảo hiểm trả tiền định kỳ được thiết kế rất giống với sản phẩm bảo hiểm Hỗn hợp, đó là: trả tiền bảo hiểm nếu người được bảo hiểm tử vong hay thương tật toàn bộ vĩnh viễn trước khi được nhận quyền lợi bảo hiểm định kỳ và nhận quyền lợi định kỳ (gần tương đương với quyền lợi đáo hạn trong bảo hiểm Hỗn hợp được trả nhiều lần) kể từ thời điểm bắt đầu nhận quyền lợi định kỳ.
- Thứ hai, nâng cao tỷ lệ hoa hồng tối đa trong năm đầu của bảo hiểm tử kỳ và bảo hiểm trọn đời truyền thống nhằm khuyến khích hơn nữa việc bán các sản phẩm bảo hiểm mang tính bảo vệ thiết thực này.
- Thứ ba, tỷ lệ hoa hồng cần được quy định theo hướng tạo sự linh hoạt cần thiết cao hơn cho các doanh nghiệp bảo hiểm  trong việc trả hoa hồng. Trên thực tế, các doanh nghiệp bảo hiểm trả phần lớn hoa hồng trong một số năm đầu, đặc biệt là năm đầu tiên. Do vậy, nên tập trung vào việc quy đinh tỷ lệ hoa hồng tối đa cho năm đóng phí đầu tiên và tổng hoa hồng tối đa cho cả đời hợp đồng. Chẳng hạn, với bảo hiểm Hỗn hợp, tỷ lệ hoa hồng tối đa cho cả đời hợp đồng, cho năm thứ nhất và các năm tiếp theo có thể quy định như sau:
Hoa hồng tối đa cho cả đờì hợp đồng =  Giá trị nhỏ hơn của (Thời hạn đóng phí (tính theo năm) *150% Phí bảo hiểm/10; 250% Phí bảo hiểm năm).
Hoa hồng tối đa năm đầu tiên = Giá trị nhỏ hơn của [Thời hạn đóng phí (tính theo năm)* 40%/10; 40%]
Hoa hồng tối đa các năm tiếp theo: Không quá 50% tỷ lệ hoa hồng tối đa năm đầu tiên.
Ví dụ, bảo hiểm Hỗn hợp thời hạn bảo hiểm 15 năm thì hoa hồng tối đa cho cả đời hợp đồng là 225% Phí bảo hiểm năm; Hoa hồng tối đa năm thứ nhất là 40%; Hoa hồng tối đa các năm tiếp theo là 20%.
Với quy định như trên, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tự xác định cơ cấu trả hoa hồng phù hợp với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình nhằm đảm bảo vừa phát triển đội ngũ bán hàng/kênh phân phối vừa đảm bảo mức phí bảo hiểm cạnh tranh.
- Thứ tư, cần quy định nhất quán tỷ lệ hoa hồng tối đa giữa các loại hình sản phẩm: truyền thống, liên kết chung và liên kết đơn vị.
- Thứ năm, tỷ lệ hoa hồng nên được quy định theo thời hạn đóng phí thay vì thời hạn bảo hiểm nhằm đảm bảo tính hợp lý của tỷ lệ hoa hồng và sự linh hoạt trong thiết kế thời hạn đóng phí nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.  
- Thứ sáu, với bảo hiểm liên kết chung và liên kết đơn vị, do tính chất linh hoạt của sản phẩm trong đóng phí, tỷ lệ hoa hồng tối đa nên được quy định theo năm hợp đồng mà phí bảo hiểm thực tế được đóng đồng thời quy định về hoa hồng cũng cần xem xét đến việc thay đổi phí bảo hiểm. 
- Thứ bảy, với những sản phẩm kết hợp các nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt, tỷ lệ hoa hồng tối đa nên được quy định áp dụng theo loại nghiệp vụ bảo hiểm chiếm tỷ trọng lớn nhất xét về phí bảo hiểm.
- Thứ tám, cần xem xét và đưa ra quy định đảm bảo tính hợp lý giữa tỷ lệ hoa hồng tối đa của hợp đồng đóng phí bảo hiểm định kỳ và đóng phí bảo hiểm 1 lần.
- Thứ chín, bổ sung quy định tỷ lệ hoa hồng tối đa cho bảo hiểm sức khỏe khi được bán qua các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ hoặc quy định một tỷ lệ chung áp dụng cho cả lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ.
Lương Xuân Trường.



Gửi đăng bài, Tư vấn, Giải đáp thắc mắc, hãy Email cho chúng tôi : This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
 

www.webbaohiem.net
Bảo hiểm (bao hiem) - Cổng thông tin bảo hiểm Việt Nam ( Bao hiem - cong thong tin bao hiem Viet Nam)